Kỷ niệm 58 năm Ngày Giải phóng Khu mỏ 25/4 (1955 - 2013): Đổi thay ở vùng than Cẩm Phả

58 năm trước, ngày 22/4/1955, bộ đội ta tiến vào tiếp quản các TX Quảng Yên, Cửa Ông, Cẩm Phả trong không khí tưng bừng náo nhiệt của nhân dân... Tiếp nối truyền thống của giai cấp công nhân và nhân dân Vùng mỏ, cấp uỷ, chính quyền, LLVT và nhân dân các dân tộc TP Cẩm Phả tiếp tục viết lên những trang sử hào hùng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Một góc TP Cẩm Phả hôm nay. Ảnh: Công Thành

Một góc TP Cẩm Phả hôm nay. Ảnh: Công Thành

Vào một ngày trung tuần tháng 4 lịch sử này, chúng tôi tìm đến nhà ông Nguyễn Văn Đa, 85 tuổi, ở phường Cẩm Sơn, TP Cẩm Phả, được nghe ông kể về niềm vui sướng của 58 năm trước, khi những người thợ mang thân phận nô lệ như ông được trở thành công dân của một nước độc lập. Mở đầu câu chuyện, ông đọc cho chúng tôi nghe mấy câu thơ mà người thợ ngày đó vẫn truyền nhau “Nằm đêm nghe tiếng còi tầm/Nghe như tiếng vọng từ âm phủ về/Tiếng còi não nuột tái tê/Bước chân vào mỏ như lê vào tù…”. Ông Đa sinh ra và lớn lên tại tỉnh Nam Định, cả gia đình ông gồm bố, mẹ và hai người anh đều bị chết đói năm 1945. Ông Đa không nhớ rõ ông theo mấy thanh niên ở làng ra Cẩm Phả xin vào làm việc trong mỏ than thời gian nào, nhưng nhớ rất rõ rằng thời điểm ấy, ông và những bạn phu của ông phải sống trong cảnh cùng cực, thường xuyên bị đánh đập, cúp công, cúp lương. Hầu như ngày nào cũng có tai nạn lao động, người chết, kẻ bị thương, tiếng kêu khóc của thân nhân thật thảm thiết. Đi làm đã vất vả, tối về những người phu mỏ sống trong những ngôi nhà ổ chuột, trật trội, nóng nực, ngày mưa thì dột, ngày nắng thì oi bức, khiến người nào, người nấy bệnh tật, ghẻ lở khắp người. Kiếp nô lệ lầm than cứ thế trôi qua nặng nề đối với những người phu mỏ. Và rồi, cái ngày tháo ách “xiềng xích” ấy cũng đến. Đó là ngày 22-4-1955, ngày không thể quên đối với ông Đa và người dân vùng than Cẩm Phả. Bộ đội ta ở Dương Huy và Tiên Yên tiến về tiếp quản Cẩm Phả. Cách đó hơn 1 tuần, được sự giác ngộ của cán bộ cộng sản, ông cùng với những công nhân trong mỏ đã tham gia đấu tranh chống lại chủ mỏ định phá máy móc, thiết bị và cưỡng bức người dân di cư vào Nam. Sáng hôm ấy, cũng như bao người khác, ông Đa chạy bổ ra đường để xem, đón bộ đội về tiếp quản với niềm hân hoan, vui mừng tột độ...

Phát huy tinh thần “kỷ luật và đồng tâm” của thợ mỏ, TP Cẩm Phả hôm nay có sự đổi thay, phát triển nhanh chóng. Cẩm Phả hiện trở thành trung tâm khai thác, chế biến và tiêu thụ than của cả nước, trung tâm công nghiệp, thương mại dịch vụ và du lịch phía Đông Bắc của tỉnh, là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh, của vùng duyên hải bắc bộ, có vị trí quan trọng về AN-QP.

Từ nhiều năm nay, tỉnh và TP Cẩm Phả đã quan tâm đầu tư, tập trung quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, mở rộng không gian đô thị, xây dựng các công trình công cộng, chỉnh trang đô thị và cải thiện môi trường sống của nhân dân... Đến nay, bộ mặt đô thị của TP Cẩm Phả ngày càng khang trang, sạch đẹp; đảm bảo các yếu tố cần thiết nhằm xây dựng một đô thị hiện đại trong tương lai. Thành phố hiện có hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt nội thị thuận lợi cho việc giao thương và vận chuyển hàng hoá. Cẩm Phả có cảng quốc gia Cửa Ông, cảng Hòn Nét phục vụ xuất khẩu than, các tàu trọng tải 6 - 10 vạn tấn ra vào thuận tiện; cùng với 6 cảng nội địa phục vụ xuất nhập hàng hoá, vật liệu, phục vụ du lịch, tham quan Vịnh Bái Tử Long, Vịnh Hạ Long. Thành phố còn có tuyến đường sắt chuyên dùng dài 40km phục vụ vận tải than; 3 bến xe khách công cộng, 5 bến xe phục vụ đưa đón công nhân mỏ. Hạ tầng kỹ thuật được đầu tư theo quy hoạch, đáp ứng các tiêu chuẩn đô thị, phù hợp với điều kiện phát triển bền vững của địa phương.

Những năm qua, thành phố đã tranh thủ các nguồn lực, tập trung ưu tiên đầu tư phát triển, xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, nâng cao năng lực quản lý đô thị (từ năm 2005 đến nay, tổng mức đầu tư xã hội trên 40.000 tỷ đồng). Cơ cấu kinh tế được chuyển đổi hợp lý. Năm 2012, tổng thu NSNN trên địa bàn đạt trên 9.700 tỷ đồng; thu ngân sách thành phố đạt trên 977 tỷ đồng, tăng 16,52% so với năm trước.

Cùng với phát triển kinh tế, Cẩm Phả quan tâm đảm bảo an sinh xã hội. Hiện trên địa bàn có 4 bệnh viện (2 bệnh viện đa khoa hạng II, 1 bệnh viện chuyên khoa, 1 bệnh viện điều dưỡng), 1 trung tâm y tế dự phòng; 16 trạm y tế xã, phường; 15 trạm y tế của doanh nghiệp, cùng hàng trăm cơ sở dịch vụ y, dược tư nhân, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Đến năm 2010, cả 16/16 phường, xã của thành phố đạt chuẩn quốc gia về y tế. Với 60 trường từ mầm non tới THPT; các phường, xã đều có trung tâm học tập cộng đồng; có khu liên hợp VHTT, cùng nhiều khu vui chơi cho thanh, thiếu niên, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập, vui chơi giải trí của người dân. 

Chia tay tôi, ông Nguyễn Văn Đa xúc động nói: “Bây giờ cuộc sống của đồng bào mình đã được ấm no, hạnh phúc. Nhưng thế hệ chúng tôi không bao giờ quên cảnh sống lầm than của người dân mất nước, đặc biệt những ngày đầu giải phóng khu mỏ. Chúng tôi vẫn thường xuyên nhắc nhở con cháu giữ gìn truyền thống cách mạng của quê hương...”. 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết