Phục hồi môi trường tại các bãi thải mỏ

Là ngành công nghiệp đầu tiên có Quỹ cải tạo môi trường, thời gian qua, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Vinacomin) đã tích cực triển khai thực hiện nhiều dự án khắc phục, xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác than gây ra trên địa bàn. Trong đó, Tập đoàn đặc biệt chú trọng đến công tác đầu tư cải tạo, phục hồi bãi thải mỏ than.
Trồng cây trên bãi thải tại Công ty CP Than Hà Lầm.

Trồng cây trên bãi thải tại Công ty CP Than Hà Lầm.

Keo đang là giống cây chủ lực, nhanh chóng che phủ những bãi thải mới, kể cả ven đường khai thác cũng không còn ngổn ngang đất đá bị đào bới, bốc xúc trơ ra trong nắng mưa như trước. Ở các bãi thải mới từ 1 đến 5 năm, cây sắn dây dại, bìm bìm, lau le, chít được trồng tại sườn dốc các bãi thải Nam Lộ Phong, Nam Đèo Nai; tre gai được trồng ken ở chân bãi thải LV.14 Hà Tu. Ngoài ra, từ tháng 10-2007, cỏ vetiver đã được thử nghiệm trồng tại bãi thải LV.46 (Hồng Thái), bãi thải Chính Bắc (Núi Béo), bước đầu đã cho thấy tính thích ứng của giống cỏ này với điều kiện khắc nghiệt của bãi thải và khả năng giữ ổn định sườn bãi thải, chống xói lở rất tốt. Đối với các bãi thải tồn tại từ 5 đến 10 năm tương đối ổn định, một số đơn vị của Vinacomin đã trồng những loài thân gỗ có khả năng chịu hạn và thích ứng với điều kiện đất đá của bãi thải như phi lao, keo lai, keo chịu hạn, keo đen, thông đuôi ngựa, thông nhựa. Có thể kể đến Công ty CP Than Đèo Nai là một trong những đơn vị của Tập đoàn thực hiện tốt công tác hoàn nguyên môi trường.

Hằng năm Công ty đều tổ chức trồng cây ven đường, xung quanh các công trường, phân xưởng. Ngoài ra đơn vị còn trồng cây phục hồi môi trường tại các bãi thải Nam Đèo Nai, bãi thải Mông Gioăng... Diện tích trồng cây ở riêng khu vực quanh hồ Bara trên 30ha. Hiện nay, đơn vị đã trồng cây phủ xanh bãi thải Nam Đèo Nai với giá trị thực hiện hơn 6 tỷ đồng. Đặc biệt, đơn vị đã trồng xong 14ha cây xanh ở các khu vực đã ngừng đổ thải tại bãi thải Mông Gioăng trị giá 357 triệu đồng. Diện tích cây xanh đơn vị đã trồng đến thời điểm này lên đến hơn 170ha. Cùng với Công ty CP Than Đèo Nai, Công ty CP Than Núi Béo cũng rất chú trọng đến việc cải tạo, phục hồi môi trường. Ngoài ra, Tập đoàn còn thực hiện giải pháp cải tạo bãi thải bằng kỹ thuật tạo phân tầng tại các bãi thải Khe Rè (Cọc Sáu), Chính Bắc (Núi Béo); ổn định bãi thải thông qua việc tạo hình thể, tạo mặt tầng và đê chắn mép tầng, kè chân bãi thải và chân tầng thải, tạo hệ thống thoát nước mặt tầng và sườn tầng... Để đảm bảo độ an toàn cho các sườn tầng, Tập đoàn đã quy định tỉ lệ đất đá đổ khoảng 30-45 độ, để làm sao cho đất đá dù là loại nào cũng đảm bảo cho sườn tầng luôn ổn định, không bị sạt lở.

Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các mỏ than lộ thiên của Vinacomin sử dụng hệ thống bãi thải ngoài với công nghệ đổ thải cao. Khối lượng thải lớn nhất tập trung tại vùng Cẩm Phả, khoảng 60-70 triệu m3/năm. Các bãi thải của các mỏ than khai thác lộ thiên thường có chiều cao khoảng từ 60-150m, có nơi lên tới 250m. Bên cạnh đó, nhiều bãi thải như Nam Đèo Nai, Nam Lộ Phong hiện đang nằm trong khu đô thị hoặc bị các khu dân cư hình thành sau bao bọc xung quanh hoặc nằm sát ngay chân bãi thải. Các bãi thải như Cao Sơn, Khe Rè lại có xu hướng mở rộng, tiến dần về khu dân cư, hoặc các bãi thải mới hình thành tại Mạo Khê, Đông Triều... Khi muốn cải tạo các bãi thải này, việc di dân ra khỏi khu vực chân bãi thải cũng là vấn đề nan giải. Thực tế thời gian qua đã có không ít điểm mỏ quan trọng bị thiên nhiên tàn phá, vùi lấp làm thiệt hại lớn đối với các doanh nghiệp. Điển hình như năm 2007, mưa lũ lớn đã làm tràn đất thải tại Khe Rè của Công ty CP Than Cọc Sáu. Một lượng đất thải lớn đã bị tràn ra và theo suối chảy ra Cửa Ông, phải khắc phục mất nhiều công sức…

Mặc dù Vinacomin đã có nhiều cố gắng trong công tác bảo vệ môi trường, đặc biệt là hoàn nguyên môi trường sau khai thác, tuy nhiên, công cuộc cải tạo, phục hồi môi trường bãi thải mỏ than mới trong giai đoạn khởi đầu. Do vậy, trong những năm tới đây, Tập đoàn cần tiếp tục đẩy mạnh chương trình trồng rừng lấy gỗ trụ mỏ và tăng độ che phủ trên địa bàn tỉnh, đồng thời tiếp tục chương trình phủ xanh và trồng rừng trên các bãi thải mỏ đã được cải tạo góp phần bảo vệ môi trường trong khai thác than cùng môi trường của tỉnh.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết